
Cao Vọng Của Bọn Thanh Niên An Nam "Nước ta cần phải có một nền học thức đứng đắn riêng cho ta, là vì nhiều dân nhờ cái nền tri thức của mình mà giữ được cái danh của mình mãi mãi, được ngoại quốc yêu kỉnh, lắm khi lại được lãnh cái phận sự làm thầy nhơn loại. Một nước được tự chủ mà còn phải nhờ học thức của nước khác thì cũng không được thật tự do. Vả lại, nền tri thức là cái hồn của một đoàn dân, Người mà tinh thần cao thượng thì hưởng được nhiều điều mà bực phàm nhơn không biết nổi, một đoàn dân mà có một nền học thức cao rộng thì được cao hơn các dân ngu dốt. Như vậy thì một đoàn dân muốn sống, muốn tự do, muốn tràng danh trong nhơn loại, cần phải có một nền tri thức riêng cho mình."

Kim Cổ Cách Ngôn Lương Văn Can nguyên tên là Lương Ngọc Can, tự là Hiếu Liêm và Ôn Như, hiệu Sơn Lão, quê ở thôn Hạ, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội (nay là thành phố Hà Nội). Là một chí sĩ yêu nước, tham gia sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, cụ dành tâm huyết một đời cho việc khơi dậy dân trí và dân khí, nhằm cổ vũ tinh thần tự cường dân tộc và chấn hưng đất nước. Xuất thân khoa bảng, cụ còn tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội, với những tư tưởng đột phá về giáo dục, văn hóa. Cụ đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa và tư tưởng cho thế hệ thanh niên trong thời kỳ đất nước đối mặt với những biến động lớn ở những năm đầu thế kỷ XX. Tròn một thế kỷ kể từ lần in đầu tiên vào năm 1925, những lời trong "Kim cổ cách ngôn" của Ôn Như Lương Văn Can vẫn ngời chất ngọc, mang những thông điệp hữu ích trao truyền đến các thế hệ tương lai, là kim chỉ nam cho lớp hậu bối, giúp họ vững bước trên hành trình tìm kiếm giá trị nhân tâm bền vững.

Sức Sống Của Không Gian Văn Hóa Hồ Chí Minh Với tác phẩm "Sức sống của không gian văn hóa Hồ Chí Minh", tác giả Phạm Phương Thảo nói về cái thần, tâm hồn, sức lan tỏa của không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Một số thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh được tác giả Phạm Phương Thảo chọn giới thiệu trong hơn gần 5.000 thiết chế này. Mỗi nơi thể hiện tấm lòng, một sự tìm đến sức sống không gian văn hóa Hồ Chí Minh của nơi này Người đã ra đi, không được đón Người trở lại, nhưng được mang tên Người mãi mãi từ ngày 02/7/1976. Nơi sách này người đọc gặp nhiều, thấy nhiều thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Nhưng gần 5.000 thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh vẫn còn chưa đủ, sẽ còn phải nhiều hơn nữa, mỗi ngày đều nhiều hơn, sẽ có không gian văn hóa Hồ Chí Minh phi vật thể, loại hình không gian văn hóa Hồ Chí Minh qua mạng, công nghệ thông tin. Và hơn thế nữa, phải tìm đến và gặp trái tim, gặp cái tâm hồn, cái thần của không gian văn hóa Hồ Chí Minh.

Phật Giáo “Đạo Phật chỉ cầu lấy trí tuệ mà hiểu biết, chứ không chủ lấy sự mê hoặc mà làm mờ tối người ta; cho nên chính đạo Phật là đạo chỉ có sự sáng suốt mà không có sự mê tín. Chúng tôi mong rằng ai đã tin theo đạo Phật là người có cái tâm rất sáng suốt, có cái tự do về đường tư tưởng và có cái sức tự cường, tự lập mà xử kỷ tiếp vật. Nếu người mình mà hiểu được như thế và làm được như thế, thì sự tín ngưỡng đạo Phật không có sự làm xằng tin nhảm, và lại rất lợi cho sự tiến hóa của nhân quần xã hội về đường đạo lý và đường tri thức. Ấy là cái sở kiến của chúng tôi, và dám mong rằng cái sở kiến ấy không trái với cái hy vọng chung của tất cả mọi người chúng ta vậy.” (Trần Trọng Kim)

Ký ức Đông Dương: Việt Nam - Campuchia - Lào Mémoires D’ Indochine: Vietnam - Cambodge - Laos Memories of Indochina: Vietnam - Cambodia - Laos (Bản bìa cứng phổ thông) Tác giả: Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Eric Bourdonneau, Philippe Lefailler, Michel Lorillard ; Nguyễn Thị Hiệp dịch tiếng Việt ; David Smith dịch tiếng Anh ; Olivier Tessier biên soạn ; Zac Herman hiệu đính Ấn bản lần thứ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) & Nhà xuất bản Magellan & Co, Paris, (Ký ức Việt Nam, 2013; Ký ức Lào,2015; Ký ức Campuchia, 2017) EFEO và Nhà xuất bản Magellan & Co giữ bản quyền. “Ký ức Đông Dương: Việt Nam - Campuchia - Lào” hoàn thành in ấn vào tháng 6.2020 là bản in đầu tiên có 3 ngôn ngữ Anh - Pháp - Việt được ấn hành bởi sự phối hợp giữa NXB Văn hóa – Văn nghệ TP.HCM và Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp tại Việt Nam sau hơn hai năm bắt tay thực hiện. * Phần đầu giới thiệu về lịch sử hình thành và những tư liệu quý giá qua thời gian được lưu trữ kỹ lưỡng bởi Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp qua những chuyển biến của lịch sử. Những hình ảnh khắc sâu trong tim, về khoảnh khắc trong quá khứ, xuyên suốt ở ba quốc gia Việt Nam - Campuchia – Lào. Các khung cảnh sẽ xuất hiện trước mắt bạn như… Ký ức Việt Nam: cận cảnh Đông Dương, con người và truyền thống; mỹ thuật và kiến trúc, Phật giáo, lễ hội và nghi thức tôn giáo. Ký ức Campuchia: Khoa học - Mỹ thuật - Chính trị, Đất - Nước, nghi lễ hoàng cung, nhà sư và chùa chiền, thế giới “tách biệt”, khám phá. Ký ức Lào: tự nhiên và văn hóa, con người và thiên nhiên, lễ hội và truyền thống, thực hành Phật giáo. Tổng hợp tương quan về đa sắc tộc… “Vốn chú trọng lối tường thuật, các nhà nghiên cứu vào cuối thế kỷ thứ 19 thường thích mang theo bên mình một cuốn sổ ghi chép, mặc dù họ cũng đã quen với những bức vẽ kỹ thuật vốn là những hình ảnh duy nhất được chấp nhận in kèm với các bài tạp chí chuyên ngành. Họ mô tả các chi tiết thông qua những ký họa giản lược khi không thể phó thác việc này cho thợ vẽ phụ tá của Viện. Đây quả là một công việc khó khăn vì để vẽ bằng than cần phải có óc quan sát, hoa tay và đặc biệt là phải có thời gian. Việc sử dụng ảnh giúp vượt qua được những trở ngại này đồng thời thoát khỏi các chuẩn mực gò bó của hội họa để thể hiện thực tế với độ chính xác như mong muốn. Các nhà khảo cổ học và dân tộc học của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã rất nhiệt tình ủng hộ và bảo vệ công cụ chụp ảnh mới này vì chuyên ngành mới của họ mang tính kỹ thuật và gắn liền với thực địa (cũng tương tự như các nhà địa lý và địa chất học nhưng với những lý do khác). Ảnh chụp khoảnh khắc cho phép lưu giữ lại một hoạt động, hiện tượng diễn ra trong chốc lát và khôi phục toàn bộ các chi tiết mà mắt thường có thể không ghi nhận kịp. Chẳng hạn như vạt áo bung lên của người H’Mông, một công đoạn khai quật cổ vật bị chôn vùi dưới lòng đất hay một công trình xây dựng của người Chăm có nguy cơ sắp biến mất. Ảnh sao chụp cho phép xếp sang bên cạnh một số chủ đề rồi tiếp tục nghiên cứu nó về sau, quay lại một chi tiết nào đó, so sánh chúng hoặc dùng làm cứ liệu”. - Ký ức Việt Nam - Cận cảnh phương Đông – Viện Viễn Đông Bác cổ pháp ở Việt Nam. “Ba thập kỷ sau khi chuyển kinh đô từ Oudong về Phnom Penh, Phật viện Hoàng gia, chùa Preah Keo, bắt đầu được xây dựng bên cạnh hoàng cung vào năm 1892. Mối quan hệ giữa vua Norodom và chính quyền thuộc địa ngày càng căng thẳng vì chính quyền thuộc địa luôn tìm cách làm suy yếu quyền lực đế vương. Bức tượng vua cưỡi ngựa được dựng trước chùa Phật Ngọc là điểm nhấn, hình ảnh bảo hộ mới của vương triều, thể hiện đức vua mặc đồ chiến binh Pháp, chào kiểu nhà binh, đầu đội mũ lông vũ hai chỏm. Bức tượng này nổi tiếng vì phần thân được coi là của Napoléon III, chỉ thay thế phần đầu của đức vua. Từ khoảng giao thời giữa hai thế kỷ, hoàng gia có cái nhìn thù địch với chế độ Bảo hộ, vua Norodom là “Napoléon nhiệt đới” đang tiến lên, dưới sự bảo hộ của Preah Keo, để lấy lại tự do đã mất”.- Ký ức Campuchia - Nghi lễ hoàng cung “Các bức ảnh là bằng chứng độc đáo làm toát lên cuộc sống êm đềm và giản dị ở Luang Prabang đầu thế kỷ 20. Trong những thập niên hai mươi, ba mươi của thế kỷ 20, các chuyến công tác ở Lào của EFEO rất hiếm khi được thực hiện ngay cả khi Viện vẫn còn rất nổi danh qua những ấn phẩm quan trọng như các nghiên cứu của Charles Robequain (1924-1926) (2), Suzanne Karpelès (1929-1933), Madeleine Colani (từ 1931-1935)(3) và Paul Lévy (1938-1940) hay những cuộc trùng tu của Louis Fombertaux (1929-1935). Những ảnh liệu còn lưu giữ chủ yếu liên quan đến cổ vật thời tiền sử hoặc những chi tiết về kỹ thuật xây dựng. Thời kỳ chuẩn bị và ngay sau đó là thời kỳ độc lập của Lào đi cùng với sự hồi sinh trong hoạt động của EFEO ở nước này. Một trụ sở của Viện được thành lập ở Viêng Chăn năm 1950 và tồn tại đến năm 1966. Henri Deydier (1922-1954) là thành viên phụ trách đầu tiên. Sự ra đi đột ngột do tai nạn khi ông mới 32 tuổi đã chấm dứt nguyện ước của ông trong việc thực hiện một chương trình nghiên cứu táo bạo về tư liệu trong các tỉnh mà ông nhắm đến. Tuy nhiên, ông cũng đã có thời gian để kịp tập hợp một số dữ liệu thú vị về các bộ tộc người miền Bắc nước Lào. Một số lượng nhỏ ảnh liệu chụp vào năm 1953 và 1954 sau này mới được bổ sung vào các ghi chép thực địa của ông. Pierre-Bernard Lafont (1926-2008) người kế vị ông với tư cách là đại diện của EFEO ở vương quốc Lào sau độc lập đã tiếp tục một số nghiên cứu mà Henri Deydier khởi xướng”. - Ký ức Lào - Tự nhiên và văn hóa ----- Giới thiệu: Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp tại Việt Nam: 120 năm - Một lịch sử đồng hành. Được thành lập ngày 20 tháng 1 năm 1900 tại Sài Gòn, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) có nhiệm vụ thu thập, thống kê, bảo quản và phân tích các yếu tố văn hóa và di sản của lục địa Á châu. Ngay từ buổi sơ khai, chủ yếu là các trí thức Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng qua việc thực hiện các công trình của EFEO. Vốn thuộc tầng lớp trí thức và có kiến thức sâu rộng, họ đã hỗ trợ tích cực cho các đồng nghiệp người Pháp hiểu được văn hóa Việt Nam, và vì vậy, một cách tự nhiên, họ là những người thầy đầu tiên của một số đồng nghiệp Pháp. Lập trụ sở tại Hà Nội năm 1902, EFEO từ đó đến nay trường tồn cùng với thời gian giữa lòng Hà Nội ở nhiều địa điểm và cơ quan khác nhau: Bảo tàng Finot, nơi lưu giữ những bộ sưu tập của EFEO, được xây dựng năm 1926, nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam; Bảo tàng Blanchard de la Brosse nay là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh v.v. Ngoài ra còn phải kể đến một thư viện lớn của Viện đã được bàn giao cho Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Những năm tháng Đông Dương Ngay sau khi thành lập tại Hà Nội, EFEO đã quan tâm tới các ngành xã hội nhân văn của Việt Nam xưa tỏa sáng bên cạnh văn minh Trung Hoa, từ lưu vực sông Hồng tới dãy Hoành Sơn phía Bắc và tới tận các vùng ở Thanh Hóa. Nguồn tư liệu thành văn dưới mọi hình thức, đặc biệt là thư tịch Hán Nôm đã trở thành tâm điểm của các chương trình bảo tồn và in rập đối với các loại tư liệu dễ bị hư hại nhất. Các nhà nghiên cứu Pháp và Việt Nam đã nghiên cứu với phương pháp khoa học về văn minh thư tịch, văn tự trong đó phải kể đến Nguyễn Văn Tố hay Raymond Deloustal, người đã có công trong việc làm sống dậy một quá khứ hào hùng, khai sáng ngành sử học cũng như nền tảng văn hóa xã hội của Việt Nam hiện đại. Vào đầu thế kỷ 20, Henri Parmentier đã thể hiện sự quan tâm đối với khảo cổ học Chăm cổ và chính ông là người chỉ đạo những cuộc khai quật ở Mỹ Sơn, Đồng Dương và Chánh Lộ (1902-1904) và đã công bố công trình đồ sộ của mình “Inventaire descriptif des monuments Cham de l’Annam” [Thống kê khảo tả những di tích Champa ở Trung Kỳ]. Chính từ đà này, ông đã sáng lập Bảo tàng điêu khắc Chăm - Đà Nẵng (1919). Trong những năm 1930, các cuộc khai quật được tiếp tục tại Tháp Mắm và Trà Kiệu dưới sự chỉ đạo của Jean-Yves Claeys. Những công trình nghiên cứu của Louis Malleret đánh dấu cho một số nghiên cứu được thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Sống tại Việt Nam trong một phần tư thế kỷ (1929-1957), chính Louis Malleret phát hiện ra thương điếm là bằng - 6 -chứng vật thể chứng minh sự tồn tại của Vương quốc Phù Nam. Các cuộc khai quật do ông chỉ đạo vào năm 1944 đã khám phá ra nền văn minh Óc Eo và làm nên công trình đồ sộ của ông: Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long. Song song với việc nghiên cứu thư tịch cổ và các cuộc khai quật khảo cổ, EFEO quan tâm tới các nghiên cứu văn hóa dân gian và di sản phi vật thể nhằm hiểu rõ hơn về không gian và môi trường của một nền văn minh vốn gắn với thực vật. Làng được đặc biệt quan tâm nghiên cứu vì nó vừa là trung tâm của nền văn minh lúa nước, vừa là biểu tượng cho một quốc gia đa sắc tộc gắn kết trong khu vực Đông Nam Á. Nhiều cuộc điều tra, khảo sát dân tộc học đầu tiên về các nhóm dân tộc trên bán đảo Đông Dương đã được các nhà nghiên cứu nghiệp dư thông tuệ - các thành viên thông tấn của Viện thực hiện. Có thể kể đến các binh sĩ, giáo viên hay các nhà truyền giáo, như cha Léopold Cadière, người sáng lập Hội Đô Thành Hiếu Cổ và tạp chí mang tên của Hội, những ấn phẩm của ông về tín ngưỡng và cuộc sống thường nhật của người Việt luôn là những tài liệu tham khảo không thể bỏ qua. Ở EFEO, bộ môn dân tộc học đã được thành lập dưới sự chỉ đạo của Paul Lévy, ông tiếp nhận các chuyên gia về dân tộc học người Việt như Nguyễn Văn Huyên (sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục 1956-1975), Nguyễn Văn Khoan, Trần Văn Giáp, v.v. Qua các chương trình khảo sát thực địa, họ đã dựng nên bản đồ dân tộc học ngôn ngữ đầu tiên của Đông Dương, hoàn thành vào năm 1941, công bố các cuốn từ điển và tập hợp được một phông ảnh liệu đồ sộ. Về sau còn có sự xuất hiện của những nhà nghiên cứu trẻ như Georges Condominas (1947), nhà ngôn ngữ học Georges Haudricourt (1948) hay cả Jean Boulbet (1966). Tất cả các học giả này đã góp phần tạo nền móng để ngành dân tộc học hiện đại của Việt Nam dựa vào đó để phát triển. Năm 1957, việc di dời EFEO về Paris đã được thực hiện một cách rất hệ thống, EFEO đã chuyển giao với trách nhiệm cao nhất toàn bộ các khu nhà, bảo tàng và những bộ sưu tập mà EFEO đang sở hữu cho chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những hoạt động của EFEO ở Việt Nam từ 25 năm nay Chính sách mở cửa của Việt Nam đã cho phép thành lập một trung tâm EFEO mới tại Hà Nội năm 1993 và sau đó là trung tâm thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, nằm trong hệ thống 18 trung tâm tại châu Á.(1) Tiếp nối truyền thống nghiên cứu về Việt Nam xưa, ngay từ đầu những năm 1990, EFEO đã khởi xướng “Dự án xuất bản Thư mục và Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam” do Philippe Papin điều phối với sự hợp tác của Viện Hán Nôm (VASS). Dự án này đã cho phép xuất bản, bảo tồn 22.000 thác bản văn bia do EFEO in rập từ 1911 đến 1954. Bộ Tổng tập đồ sộ này gồm 22 quyển. Ngoài ra còn có 12 tập thư mục mô tả chi tiết từng tấm bia. Đây chủ yếu là những tư liệu tồn tại từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 ở các làng xã miền Bắc, như văn tự công đức, hợp đồng cung tiến, phong tục tập quán, quy định về chợ búa, về những thỏa ước, giao kèo giúp chúng ta hiểu được cuộc sống thường nhật của nông thôn Việt Nam xưa. Việc thu thập các bản thảo cổ bằng chữ viết của người Dao cũng đã được thực hiện với cùng một cách tiếp cận như trên để bảo tồn di sản chữ viết. Dự án này do Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Lào Cai, ông Trần Hữu Sơn, Philippe Le Failler (EFEO) và Bradley Davis (Trường Đại học Washington) thực hiện đã cho phép sưu tập được 14.000 văn bản viết tay, trong đó 1.000 văn bản đã được số hóa. Nhưng giấy viết, dù được thực hiện trên nền chất liệu nào, cũng không phải là hình thức duy nhất được con người sử dụng để ghi lại thực tế cuộc sống hàng ngày hoặc các sự kiện quan trọng. Các hình khắc trên đá ở Sa Pa được tìm thấy ở trên sườn núi khu vực thung lũng thuộc tỉnh biên giới Lào Cai cho đến nay vẫn chưa biết tác giả của chúng là ai cũng như thời điểm ra đời chính xác của các hình khắc chạm này. Ta có thể phân biệt được những nét khắc hình người hoặc hình khắc các đồ vật lao động nông nghiệp thường nhật. Vào năm 2005, EFEO và tỉnh Lào Cai đã quyết định thực hiện việc thống kê có phương pháp các hình khắc đá này và nhờ đó đã ấn hành tập thư mục giới thiệu bãi đá có hình khắc cổ ở huyện Sa Pa và một nghiên cứu phân tích phong cách tranh khắc vào năm 2012. Một lĩnh vực khác được Viện đặc biệt chú trọng là khảo cổ học. Trong số các chương trình được tiến hành từ 25 năm nay, có thể kể đến dự án nghiên cứu di chỉ khảo cổ Hoàng thành Thăng Long được khởi xướng vào tháng 12 năm 2002 đã huy động nhiều thành viên của Viện tham gia. Cũng chính trên diện tích một vài héc-ta này, trung tâm chính trị của Việt Nam đã được thiết lập từ hơn một thiên niên kỷ trước. Hợp tác khoa học giữa Trung tâm EFEO tại Hà Nội và Viện Khảo cổ đã khởi đầu, cùng với một số chương trình khác, việc thành lập bảo tàng khảo cổ mang tên Bảo tàng Hà Nội - nghìn năm Thăng Long. Ở miền Trung, có một chương trình nghiên cứu về lịch sử xã hội miền Trung Việt Nam trong mối quan hệ văn hóa giữa Champa với Đại Việt và các dân tộc vùng cao. Năm 2005, việc phát hiện ra Trường lũy ở tỉnh Quảng Ngãi (dài 127km được người Kinh và người H’rê xây dựng vào năm 1819) đã giúp nhìn nhận lại vấn đề đồng nhất giữa các nhóm dân cư khác nhau trong vùng (thế kỷ 15 - thế kỷ 19) và các mối quan hệ trung tâm - ngoại vi. Nghiên cứu về nông thôn luôn luôn có vị trí đặc biệt trong các công trình nghiên cứu của EFEO. Cần phải nói rằng trong vòng hơn một thế kỷ, những nghiên cứu về người nông dân Việt Nam ở một đất nước thuần nông đã nỗ lực xác định một hình mẫu về “làng truyền thống” được định hình như một không gian khép kín, tự cung tự cấp và có khả năng tự lập tự trị rất cao. Trong một nghiên cứu so sánh đã được triển khai thực hiện trong vòng bốn năm trên bốn ngôi làng thuộc châu thổ sông Hồng, thế giới nông thôn thể hiện một phương diện hoàn toàn khác khi nó được định vị dưới góc độ trao đổi, sự linh động về thiết chế cùng với những biến chuyển về không gian xã hội và chính trị. Nỗ lực tìm hiểu về xã hội nông thôn Việt Nam đặt ra câu hỏi trọng tâm về mối quan hệ Nhà nước – Địa phương được xem xét dưới góc độ quản lý nước và thủy lợi mà sự hiện diện khắp nơi của nước tạo nên cảnh quan và thấm đẫm văn hóa nhân sinh. Các nghiên cứu đề cập đến quá khứ, qua các phân tích sự thay đổi chính sách thủy lợi của đồng bằng châu thổ sông Hồng (thế kỷ 12 đến thế kỷ 20), cũng như đề cập đến các phương thức hiện tại về quản lý nguồn nước ở lưu vực sông Đồng Nai và ở miền Nam. Cuối cùng, trước khi kết thúc bài giới thiệu ngắn này, không thể bỏ qua các ấn phẩm của EFEO tại Việt Nam. Ấn phẩm được chia thành hai bộ danh mục (Thư viện Việt Nam và Tư liệu phục vụ cho nghiên cứu Lịch sử: 15 cuốn sách và 7 ấn phẩm điện tử) và bộ sưu tập sách đặc biệt (34 công trình). Từ năm 1993, 6 dự án xuất bản lớn đã được thực hiện trong đó có công trình in bằng ba ngôn ngữ, kèm chú giải tác phẩm của Henri Oger “Technique du Peuple Annamite” [Kỹ thuật của người An Nam], (1909), ấn phẩm trọn bộ “Địa chí thời vua Đồng Khánh” (306 bản đồ in màu) và ấn bản điện tử 120 số của tập san Những người bạn cố đô Huế. OLIVIER TESSIER (EFEO) Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Việt Nam: 120 năm - Một lịch sử đồng hành.

Hôm Nay Với Nho Giáo “Nho giáo được truyền vào nước ta bởi phong kiến nhà Hán xâm lược hồi những năm cuối thế kỷ I trước Công nguyên. Suốt hơn mười thế kỷ lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáo và Nho học đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lãnh vực đời sống con người Việt Nam, trong đó có tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật… Nhưng khi cha ông ta đã giành lại độc lập tự chủ, nghĩa là phong kiến Trung Quốc xâm lược bị nhân dân ta đánh đuổi phải rút chạy về nước, thì Nho giáo và Nho học vẫn còn tồn tại và vẫn tiếp tục truyền bá trên quê hương đất nước chúng ta… Và cho dù hôm nay, Nho giáo và chế độ giáo dục Nho học không còn tồn tại ở nước ta cũng như ở các nước thuộc khu vực văn hóa chữ Hán trước đây, nhưng những tư tưởng của Nho giáo vẫn lan tỏa ảnh hưởng, vẫn tiềm tàng một sức sống trong tâm lý, trong lối ứng xử của mỗi cá nhân, trong cộng đồng dân cư từ làng xã đến khu phố thị thành… Nhật Bản, Hàn Quốc, rồi Singapore sở dĩ trở thành những con rồng châu Á vươn cao là nhờ biết tiếp thu rồi vận dụng và phát huy những yếu tố nhập thế tích cực của Nho giáo để phát triển đất nước. Tại xứ sở sản sinh ra Nho giáo cũng vậy, vài chục năm trở lại đây, nhà cầm quyền đã thức tỉnh và đã phát huy thế mạnh này để đưa đất nước trở thành một trong hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thế thì, ai bảo Nho giáo là trì trệ, là cổ hủ, là cản trở bước phát triển xã hội? (trích Lời cuối sách – PGS.TS. Nguyễn Công Lý)

Nghệ Thuật Nói Lái Qua Ngôn Ngữ Dân Gian Nam Bộ Lúc còn nhỏ xíu ở vùng đất Bến Tre, tôi đã sống trong thế giới kỳ ảo của nói lái. Những buổi chạy theo đám thả diều lúc vừa lên chín, lên mười, trời nắng chang chang, tư bề gió lộng, tôi đã từng ngẩn tò te với với câu đố của thằng Quỳnh: “Tao đố mầy, đốt rẫy bay tàn là cái gì?”. Tôi nào có biết nó muốn nói gì nên trả lời: “Thì đốt rẫy tàn lửa phải bay chớ có gì đâu mà mầy hỏi?”. Nó áp ngón tay cái vào má, ngoe ngoe ngón tay trỏ, nói giọng bỡn cợt: “Quê một cục, hổng phải như mầy nói đâu. Đốt lửa bay tàn là bàn tay đây nè!”… như mở cờ trong bụng, tôi vui mừng quá cỡ vì thấy mình đã thâm nhập được vào trong một thế giới kỳ lạ tiềm ẩn của cuộc đời thường.

Phan Yên Thành Binh Biến Ký - Toàn Cảnh Cuộc Nổi Dậy Của Lê Văn Khôi “Các lực lượng tham gia nổi dậy chủ yếu là quan lại cấp thấp cũ của Gia Định Thành dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt, lực lượng lính cựu tù phạm có gốc Bắc Kỳ (các đội Hồi lương, Bắc thuận, An thuận, Thanh thuận và những người từ những đội đó bỏ trốn), các tù phạm, người theo đạo Công giáo, người Hoa, một bộ phận người dân tộc thiểu số. Đó là những nhóm xã hội chịu tổn thương ở những mức độ khác nhau khi Gia Định Thành bị giải thể, chính sách bảo trợ của Tả quân Lê Văn Duyệt đối với họ bị thủ tiêu và những chính sách mới bất lợi cho họ được vua Minh Mạng áp đặt. Điều này lý giải vì sao càng ra xa Sài Gòn thì sự ủng hộ dành cho quân nổi dậy càng yếu. Trong suốt thời gian dài bị vây hãm, không có cuộc nổi dậy nào diễn ra ở Nam Kỳ nhằm “hưởng ứng” quân nổi dậy trong thành Bát Quái. Nó cũng lý giải những mức độ ủng hộ khác nhau giữa các nhóm đối với sự nghiệp của quân nổi dậy. Có thể thấy rằng, quân nổi dậy là một tập hợp rời rạc và lỏng lẻo của các nhóm yếu thế có cùng chung kẻ địch là vua Minh Mạng”. Trích nội dung sách Phan Yên thành binh biến ký

Tết Chốn Vàng Son Tết Nguyên Đán là ngày lễ quan trọng nhất của các nước Á Đông từ thời xa xưa. Ngày Tết là ngày nghỉ ngơi, mọi nhà, mọi người hướng về gia đình, tổ tiên. Trong cung đình xưa cũng vậy, triều đình Việt Nam thời phong kiến nghỉ Tết từ khá sớm, trở lại làm việc muộn, với rất nhiều nghi lễ phức tạp. Nhờ khoảng nghỉ dài, các quan và người hầu cận vua cũng có thể chăm lo cho cái Tết của gia đình. Các độc giả ngày nay sẽ tò mò: Vậy vào ngày Tết, vua nước Việt ăn Tết như thế nào? Triều đình có những nghi lễ gì, tổ chức ra sao? Những chuyện này tuy không có sách nào ghi cụ thể, nhưng rải rác trong chính sử và các sách khác cũng khá nhiều chi tiết để có thể giải đáp cho độc giả. Đây là cuốn sách viết về phong vị vàng son một thuở của cha ông ta trong những ngày Tết đến xuân về. Tác giả Lê Tiên Long chủ yếu dựa vào những cuốn sách chính sử đồ sộ của cha ông, làm cái công việc tỉ mẩn là lọc lựa, biên chép, kết nối các sự kiện, nhân vật, chuyện kể, hình thành những câu chuyện nhỏ, để người của hôm nay biết chuyện của hôm xưa, nơi chốn cung đình đã đón xuân, ăn Tết như thế nào. Chỉ có điều nó không phải một cuốn sử theo nghĩa thông thường, mà mang cái phong vị dân dã, khiêm cung, dẫu viết chủ yếu về những nghi lễ rắc rối phức tạp ở nơi chốn uy nghiêm, sang trọng bậc nhất trong thời kỳ phong kiến là cung đình!

Đưa Vào Triết Học Mục đích của những giờ triết học năm thứ nhất Văn khoa là để giúp cho sinh viên hiểu được triết học là gì, hay thế nào là suy luận triết học, và sau đó, biết đặt một số vấn đề căn bản trong Triết học. Muốn thực hiện việc dẫn dắt sinh viên vào triết học, tôi không bắt đầu bằng những định nghĩa triết học hay bằng cách trình bày những hệ thống triết học, nhưng bằng cách căn cứ vào những kinh nghiệm thông thường của đời sống hằng ngày, và vào những vốn kiến thức mà sinh viên đã có, nhất là kiến thức chuyên môn (Sử, sinh ngữ, văn học sử). Việc dẫn dắt này nhằm làm cho sinh viên thấy Triết học không phải là cái gì xa xôi, trừu tượng, nhưng là cái sống thực, cái gắn liền với cuộc đời của chúng ta, cái ta vẫn cảm nghĩ, làm mà chỉ chưa phản tỉnh để tra hỏi về ý nghĩa, giá trị của nó mà thôi. Nói cách khác, mục đích nhằm gây một thức tỉnh triết lý hơn là cung cấp một tri thức triết học. Sự thức tỉnh đó có thể xảy ra ngay từ bây giờ hay sau này, trên đường đời, mà sự gặp gỡ làm quen qua những giờ suy nghĩ, đối thoại này đã tạo điều kiện thuận tiện.Đó là điều cốt yếu, và cũng là ước muốn thực sự của người làm việc dẫn dắt, đưa vào triết học.

Tôn Giáo “Nay đối với tôn giáo tạm hạ một cái định nghĩa nhưng cũng thực khó, ta dẫu nói thế này, vị tất đã là hợp lẽ; và lại những người không tín ngưỡng tôn giáo thời đều cho tôn giáo là không tốt, không nên tín ngưỡng, thế mà bọn giáo đồ tín giáo họ lại cho tôn giáo là tốt là hay, phải nên sùng kính, vì thế nên ở khoảng giữa hai con đường rẽ là giáo đồ với phi giáo đồ, mà muốn định nghĩa cho tóm tắt, thực là khó lắm. Ta không phải là giáo đồ, vậy cũng chỉ nói tạm một câu: Tôn giáo thời có mấy cái điều kiện để quản thúc sự hành vi của người ta, cùng là quy định cái chuẩn tắc của sự hành vi cho đời người, bắt buộc người ta phải tín ngưỡng, cái thế lực làm cho du nhập vào lòng người và cái tín ngưỡng người ta đối với tôn giáo, chỉ là vì cảm tình và uy bách, chứ thực không phải có cái tín ngưỡng hợp với lý tính vậy.” - Bertrand Russell Đào Duy Anh Sinh (1904 - 1988) sinh ra ở Thanh Hóa, quê gốc ở Hà Nội. Ông tốt nghiệp Thành chung tại trường Quốc học Huế năm 1923, sau đó dạy học tại trường Tiểu học Đồng Hới (Quảng Bình). Năm 1926, ông cùng chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng thành lập báo Tiếng-dân, đồng thời gia nhập Việt Nam Cách mạng đảng. Sau thời gian bị bắt do hoạt động cách mạng (1929), ông chuyển sang con đường hoạt động văn hóa và cống hiến cho khoa học tới tận những năm cuối đời. Sinh thời, học giả Đào Duy Anh đã thực hiện trên 30 công trình nghiên cứu, được in thành khoảng hơn 60 tập sách, ngoài ra còn tham gia hiệu đính, biên tập và chú giải cho hàng chục đầu sách khác. Phạm vi nghiên cứu của ông bao quát rất nhiều lĩnh vực, và ở lĩnh vực nào cũng đạt được thành tựu đáng kể, như sử học, địa lý, từ điển, ngôn ngữ, văn hóa và văn học dân gian. Những công trình nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh được xem là “mang tính khai phá đặt nền tảng cho sự hình thành nền sử học và nền văn hóa học hiện đại Việt Nam”. Tên ông được ghi trong Từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa thư của thời hiện đại.

Tôn Giáo - Nguyễn Anh Ninh “Người mà tinh thần mạnh, hễ bị kẻ khác hiếp đáp hay là lấn lướt, thì chống cự lại. Bằng có thiếu sức thì dùng trí, dùng mưu, chế tạo máy móc, hay là hiệp lực, dùng hết các phương mà thắng kẻ bạo ngược. Còn người yếu hèn thì chỉ biết lo đút lót lòn cúi thôi. Cho nên trong nhơn loại các dân tộc tin dị đoan đều là dân tộc yếu hèn, thường bị kẻ xảo dùng đầu óc tin dị đoan của mình mà làm trở ngại sự tấn hóa của mình và làm điều lợi cho chúng nó. Bao nhiêu đầu óc tin dị đoan là bao nhiêu đầu óc không có thể tìm một điều gì mới mẻ lợi ích cho nhơn loại. Bao nhiêu đầu óc còn tin dị đoan là bao nhiêu mờ ám còn đeo đuổi theo nhơn loại, làm cho nhơn loại còn xung đột, lầm lạc trong những ý kiến hẹp hòi nhỏ mọn vô cùng.” (Nguyễn An Ninh).

Cẩm Nang Kỹ Năng Nghề Phiên Dịch Các bạn đang cầm trên tay quyển sách “Cẩm nang kỹ năng nghề phiên dịch” của tác giả Lê Huy Khoa, một người có kinh nghiệm làm công tác phiên dịch gần 30 năm trong rất nhiều lĩnh vực. Có thể nói đây là quyển sách duy nhất và đầy đủ nhất giới thiệu cho độc giả từ những tiêu chí, đặc tính của nghề phiên dịch, cho đến những nguyên tắc trong nghề, những kỹ năng cơ bản, phương pháp chuẩn bị một chương trình dịch, các bước chuẩn bị, hành trang cần trang bị, khắc phục các sự cố trong quá trình dịch, quá trình luyện tập để trở thành phiên dịch cũng như trả lời rất chi tiết tất cả các thắc mắc phát sinh trong quá trình phiên dịch, và đặc biệt là cả những trải nghiệm thú vị của cá nhân mà chỉ có nghề phiên dịch mới có thể có.

6000 Từ Vựng Chuyên Ngành Du Lịch-Khách Sạn-Nhà Hàng (Anh-Việt-Hàn) Sau một thời gian biên soạn, quyển "6000 từ vựng chuyên ngành Du lịch - Khách sạn - Nhà hàng Anh - Việt - Hàn" đã hoàn thành và ra mắt độc giả. Có thể nói đây là quyển sách tam ngữ Anh - Việt - Hàn đầu tiên về lĩnh vực Du lịch - Khách sạn - Nhà hàng ở Việt Nam, được sưu tầm và giải thích khá đầy đủ hiện nay. Sách gồm hai phần: Phần 1 trình bày tra cứu theo tiếng Anh - Việt - Hàn. Phần 2 trình bày theo tiếng Việt - Anh - Hàn, được sắp xếp theo thứ tự abc để bạn đọc dễ tham khảo.

Gia Định - Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh: Dặm Dài Lịch Sử (1698-2020) -Tập 2: 1945-2020 - Bìa Cứng "Lâu nay đã có nhiều người viết về thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng mỗi người chỉ viết về một vấn đề, một mảng của Thành phố, chưa có tác phẩm nào viết bao quát toàn diện các khía cạnh, các lĩnh vực hoạt động của Thành phố. Ngay như bộ sách Địa chỉ văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ nói một cách đại cương về lĩnh vực lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, mà không nói đến các lĩnh vực khác. Nay với tác phẩm này, tôi muốn cung cấp cho độc giả một cái nhìn bao quát, toàn diện, cụ thể các giai đoạn lịch sử, từ năm 1698 đến năm 2020, các chế độ chính trị, các lĩnh vực hoạt động về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giao fin ngưỡng, thể dục thể thao, v.v... của từng thời kỳ. Tóm lại tác phẩm này vi như một tập cẩm nang mà mọi cơ quan, can bộ, công chức, mọi gia đình trong Thành phố nên có để khi muốn fim kiếm một vấn đề gì liên quan đến Thành phố, chỉ việc mở sách ra là được thỏa mãn ngay, khỏi phải đi tìm đâu xa". -Trích Lời nói đầu-

Gia Định - Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh: Dặm Dài Lịch Sử (1698-2020) - Tập 1: 1698-1945 - Bìa Cứng "Lâu nay đã có nhiều người viết về thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng mỗi người chỉ viết về một vấn đề, một mảng của Thành phố, chưa có tác phẩm nào viết bao quát toàn diện các khía cạnh, các lĩnh vực hoạt động của Thành phố. Ngay như bộ sách Địa chỉ văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ nói một cách đại cương về lĩnh vực lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, mà không nói đến các lĩnh vực khác. Nay với tác phẩm này, tôi muốn cung cấp cho độc giả một cái nhìn bao quát, toàn diện, cụ thể các giai đoạn lịch sử, từ năm 1698 đến năm 2020, các chế độ chính trị, các lĩnh vực hoạt động về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giao fin ngưỡng, thể dục thể thao, v.v... của từng thời kỳ. Tóm lại tác phẩm này vi như một tập cẩm nang mà mọi cơ quan, can bộ, công chức, mọi gia đình trong Thành phố nên có để khi muốn fim kiếm một vấn đề gì liên quan đến Thành phố, chỉ việc mở sách ra là được thỏa mãn ngay, khỏi phải đi tìm đâu xa". - Trích Lời nói đầu

… “55 ngày. Cả Paris, cả nước Pháp, cả Việt Nam và thế giới run bần bật trong cơn sốt Covid-19. 55 ngày. Từng giây từng phút, truyền thông quốc tế kéo lại, nối lại, lan tỏa, toang ra những con số và sự kiện choáng váng. 55 ngày. Một người Việt ở Paris đối diện với thực tại, với chính mình và những giả định, suy tưởng chết chóc, hoang mang, chập chờn, bất định. 55 ngày. Đối diện với hôm qua, hôm nay và ngày mai…” Sau cuốn “Mắc kẹt: 122+ ngày mắc kẹt ở Mỹ vì Covid-19” của tác giả Phương Thu Thủy, sách Paris 55 ngày cấm túc mới được NXB Tổng hợp TP.HCM phát hành. Cuốn sách mang tới cái nhìn toàn diện, đa chiều về đời sống của con người trong những ngày Paris phải gánh chịu hậu quả của Covid-19. Giáng Hương - tiến sĩ văn học đang sống và làm việc tại Paris, Pháp - đã ghi lại cuộc sống, tâm lý, sự sợ hãi và cả niềm tin, những hy vọng của người trong tâm dịch. Giáng Hương luôn tin rằng đám mây mù sẽ tan đi, ánh nắng sẽ trở lại, và chị sẽ lại được về thăm quê hương, được trở về với vòng tay gia đình, bạn bè và trao gửi tình yêu thương.

Tự sự Truyện Kiều qua 20 bản tổ & bài bản nhạc tài tử miền Nam

Văn hóa không chỉ là khái niệm, mà còn được coi là thành quả. Đó là cột mốc mở ra các thời đại văn minh của loài người. Cách nay hàng vạn năm, nhờ các hoạt động trồng trọt và sản xuất nông nghiệp, loài người đã vượt qua thời kỳ dài săn bắt - hái lượm. Họ không còn lệ thuộc vào tự nhiên để sinh tồn. Họ khai thác, chinh phục tự nhiên, biến tự nhiên thành văn hóa, nhờ phát triển nhận thức. Kể từ đó, loài người bắt đầu tạo lập đời sống riêng của mình, xây dựng "Thế giới tự nhiên thứ hai", được gọi là quá trình đô thị hóa. Đô thị là quá trình con người tạo lập nên đời sống. Từ thời cổ trung đại đến hiện đại, đô thị đã trải qua nhiều hình thái. Chức năng của đô thị là nối dài sự phát triển của văn hóa, đáp ứng các nhu cầu phong phú, đa dạng của con người. Trong quá trình này, con người đã sáng tạo ra một loạt các thành quả văn hóa, trên các lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo, khoa học, giáo dục, kinh tế, công nghệ và nhiều thiết chế khác. Đô thị vừa có vai trò quan trọng trong quá trình tiến hóa, vừa có xu thế lan tỏa trên mọi phạm vi không gian. Đô thị trở thành môi trường sống của loài người, trong các tương quan hài hòa với thế giới tự nhiên, đồng bộ về kỹ thuật tiện ích, để con người ngày càng văn minh, tiến bộ. Nước ta đang trong quá trình đô thị hóa. Bên cạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, càng cần phải chú ý đến đô thị hóa, với các thành quả văn minh của nhân loại, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), nhằm mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay, nhiều công trình đã khảo cứu đô thị về các phương diện lịch sử, xã hội, địa lý hoặc nhân học, nhưng tiếp cận đô thị về văn hóa còn ít được quan tâm trong khi khái niệm văn hóa cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau. Công trình Văn hóa đô thị của tác giả Trần Ngọc Khánh xuất bản lần đầu năm 2012, được tác giả tiếp tục chỉnh sửa hoàn thiện.

Người Mỹ Da Đen Trong Bản Đồ Văn Học Mỹ Công trình này sẽ phác thảo hình ảnh người da đen trong văn học Mỹ từ ngày đầu lập quốc đến hết thế kỷ XX từ điểm nhìn tự bên trong của chính người da đen, và điểm nhìn bên ngoài của người da trắng. Nội dung trọng tâm của chuyến luận sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề người da đen từ cảm quan nghệ thuật của ba nữ nhà văn nổi tiếng với các tác phẩm viết về người da đen tiêu biểu nhất, trở thành những hiện tượng văn học nổi bật không chỉ của thời đại mà nó ra đời: Túp lều bác Tom (Uncle Toms Cabin, 1852) của Harriet Beecher- Stowe, Cuốn theo chiều gió (Gone with the Wind, 1936) của Margaret Mitchell và tiểu thuyết của Toni Morrison trong đó trọng tâm là Bài ca Solomon (Song of Solomon, 1977). Ba nhà văn này không chỉ thuộc về những sắc tộc và thời đại khác nhau mà họ còn sống trong những môi trường văn hóa khác nhau, có thể mang tính chất đại diện cho những vùng văn hóa khác nhau của nước Mỹ. Vì vậy, quan điểm của họ có thể xem là tiếng nói đại diện về/của người da đen trong suốt chiều dài hơn 400 năm lịch sử, trong chiều rộng không gian và chiều sâu văn hóa. Đây là điểm cốt lõi để có thể khảo sát người da đen trong bản đồ văn học, bản đồ văn hóa Mỹ. Trải qua thời gian, các quan niệm, các hệ giá trị đều có thể thay đổi; từ quan điểm hôm nay để đánh giá lại các hiện tượng văn học, văn hóa trong quá khứ cũng chỉ là một cách nhìn và cũng có thể bị tương lai phủ nhận. Trong nỗ lực phục dựng lại hành trình hiện diện của người da đen trong văn học Mỹ, chúng tôi cố gắng lý giải các tác giả, tác phẩm hoặc quá trình tâm lý của nhân vật trong bối cảnh thời đại mà tác giả, tác phẩm hay nhân vật thuộc về. Có những giá trị thuộc về một thời, cũng có những hiện tượng bất tử và văn chương nói riêng, nghệ thuật nói chung có thể bất tử hóa giá trị một thời, những công việc của người nghiên cứu phải trả tác phẩm trở về đúng tinh thần của thời đại đó.

Người Kể Chuyện Trên Báo “Cuốn sách là một cẩm nang thực hành với nhiều hướng dẫn và gợi ý được rút từ các trải nghiệm cá nhân và của các đồng nghiệp cũng như từ giáo trình dạy viết báo của Mỹ và Pháp nhằm giúp bạn vượt qua từng chặng đường, từ tìm đề tài, tìm ý, viết bài đến gửi bài cho các tờ báo và tạp chí, cả đăng tải trên mạng. Bạn sẽ được tư vấn về cách chọn đề tài, cách viết sao cho phù hợp với từng “thị trường” riêng biệt, cách tiếp cận với các trưởng ban nội dung, thư ký tòa soạn vốn là những người sẽ thẩm định, đánh giá và quyết định dăng hay gác bài của bạ Bạn cũng được chỉ dẫn những bí quyết, cách làm thế nào để phỏng vấn thành công, và nhất là biến việc viết báo thành một nghề của đời bạn.” (Đỗ Đình Tấn)

Viết Luận Văn Khoa Học Bằng Tiếng Anh - Writing A Scientific Paper In English Tập chuyên khảo này là nội dung thuyết giảng cho các nhà nghiên cứu trẻ của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch (tiếng Anh là Integrated Circuit Design Research and Education Center, viết tắt là ICDREC) thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian vài tháng giữa năm 2009, nhằm nâng cao trình độ viết luận văn khoa học kỹ thuật của các nhà nghiên cứu trẻ này. Lúc đầu, tuy đại bộ phận những người này còn ở độ tuổi trên dưới 30, nhưng đã tốt nghiệp các đại học hàng đầu của Việt Nam, một số có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, tác giả đã có ý định chỉ thuyết giảng sơ lược về bố cục, cách trình bày của một luận văn khoa học mà thôi. Nhưng trong quá trình thuyết giảng, và qua kiểm tra năng lực viết tiếng Anh phổ thông của các học viên, tác giả thấy nên thêm vài phần có liên quan đến văn pháp, cú pháp, cách xây dựng, làm giàu từ vựng phổ thông. Những phần thêm này không có tham vọng thay thế một sách phổ thông về văn pháp, cú pháp tiếng Anh. Mục đích ở đây chỉ là nêu lên những gì mà một nhà khoa học khi viết luận văn bằng tiếng Anh cần chú ý về văn pháp, cú pháp mà thôi.

Cẩm Nang Tư Duy Ngụy Biện - Nghệ Thuật Đánh Lừa Và Thao Túng “The Foundation for Critical Thinking” (Quỹ Tư duy Phản biện) là một tổ chức học thuật, cung cấp nhiều “cẩm nang về tư duy khoa học được biên soạn chặt chẽ, chắt lọc, ngắn gọn và thiết thực, đúc kết nhiều thành tựu về phương pháp trên “mẫu số chung” là khuyến khích tư duy phân tích và phản biện, cùng với các kỹ năng nghe, nói đọc, viết, học tập và nghiên cứu một cách có thực chất, có chiều sau và dễ dàng áp dụng vào cuộc sống Bộ sách Cẩm Nang Tư Duy dành cho mọi độc giả, từ học sinh, sinh viên đến các giảng viên, các nhà nghiên cứu, doanh nhân, người đã đi làm cũng như quý phụ muốn nâng cao năng lực tư duy của mình. Học sinh, sinh viên có thể đọc cẩm nang như tài liệu tham khảo để học tốt các bộ môn; quý phụ huynh có thể sử dụng cẩm nang để vừa nâng cao năng lực tư duy của mình vừa giúp con em mình phát triển các kỹ năng tư duy cần thiết để học tốt; các giảng viên, nhà nghiên cứu có thể sử dụng cẩm nang để xây dựng tốt các chủ đề của mình; ngươi đã đi làm, doanh nhâ có thể áp dụng các kỹ năng, ý tưởng của cẩm nang vào công việc và cuộc

Cẩm Nang Tư Duy Phản Biện - Khái Niệm Và Công Cụ Quyển cẩm nang này tập trung vào bản chất của các khái niệm và công cụ “tư duy phản biện” được cô đọng thành một tập sách bỏ túi. Đối với bộ môn tư duy phản biện, cẩm nang trình bày một khái niệm được nhiều người chia sẻ về tư duy phản biện. Đối với sinh viên, cẩm nang là tài liệu tham khảo phụ trợ cho sách giáo khoa trong mọi môn học. Bộ môn tư duy phản biện có thể dùng cẩm nang để thiết kế bài giảng, chấm điểm và đưa ra các bài kiểm tra. Sinh viên có thể sử dụng cẩm nang để tăng tiến hiểu biết trong bất kỳ lĩnh vực nào. Những kỹ năng chung của cẩm nang áp dụng được cho mọi chủ đề. Chẳng hạn, nhà tư duy phản biện sẽ nắm rõ ngay mục đích và vấn đề đang tranh cãi. Họ sẽ tra vấn thông tin, những kết luận và góc nhìn. Họ sẽ phấn đấu đạt đến sự chính xác, sự rõ ràng và tính liên quan. Họ sẽ tìm cách tư duy sâu hơn bề mặt bên ngoài, tư duy một cách lô gic và không thiên lệch. Họ sẽ áp dụng những kỹ năng này vào việc đọc, viết cũng như nghe và nói. Họ có thể áp dụng chúng vào các bộ môn như lịch sử, khoa học, toán học, triết học và các nghệ thuật; trong đời sống cá nhân cũng như trong cuộc sống nghề nghiệp. Khi quyển cẩm nang này được sử dụng như một tài liệu tham khảo phụ trợ cho sách giáo khoa trong nhiều bộ môn, sinh viên sẽ bắt đầu nhìn ra được ích lợi của tư duy phản biện trong từng lĩnh vực học vấn. Và nếu giảng viên đưa ra được những ví dụ áp dụng môn học này vào đời sống hàng ngày, sinh viên sẽ bắt đầu nhận ra rằng giáo dục là một công cụ cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Nếu bạn là sinh viên và đang sử dụng cẩm nang này hãy tập thói quen mang theo nó đến lớp. Hãy thường xuyên tham khảo nó để phân tích và tổng hợp những gì bạn học được. Hãy thấm nhuần sâu hơn những nguyên tắc mà bạn tìm thấy trong quyển cẩm nang này - cho đến khi việc sử dụng chúng trở thành bản năng thứ hai của bạn. Nếu thành công, cẩm nang này sẽ đồng thời phục vụ cho bộ môn, sinh viên và chương trình giáo dục.

Lịch Sử Sân Khấu Kịch Và Điện Ảnh Việt Nam Quyển sách Lịch sử sân khấu kịch và điện ảnh Việt Nam ra đời với mục đích giới thiệu sự hình thành và phát triển của sân khấu kịch nghệ và điện ảnh vào đầu thế kỷ 20 cho đến thập niên 2010 chủ yếu ở Nam Bộ. Mặc dù chỉ giới hạn trong khoảng thời gian và không gian này, nhưng chúng tôi cũng đề cập đến không gian rộng hơn trên toàn Việt Nam khi có sự tương tác và ảnh hưởng của các hình thái nghệ thuật trên ở các miền trước khi đất nước thống nhất. Phần tân nhạc, một lãnh vực âm nhạc có sự liên hệ nhiều đến nghệ thuật kịch và điện ảnh, chúng tôi sẽ viết trong một cuốn sách riêng về sự hình thành và phát triển tân nhạc Việt Nam vì lãnh vực này rất lớn và đa dạng

Già Ham Sách - Mơ Giấc Mơ Chữ Nghĩa Mỗi nhà nghiên cứu trong Già ham sách dẫu có khác nhau về khuynh hướng và phương pháp nghiên cứu, nhưng đều có chung một tấm lòng với mảnh đất Nam Bộ. Có những nhà trí thức trước 1975 như GS. Nguyễn Khắc Dương, GS. Nguyễn Văn Trung, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê; cũng có những nhà khoa học trưởng thành sau 1975 như: PGS. TS. Bùi Mạnh Nhị, PGS. TS. Nguyễn Thành Thi, PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân, PGS. TS. Nguyễn Công Lý, PGS. TS. Võ Văn Nhơn, PGS. TS. Nguyễn Hữu Hiếu, PGS. TS. Nguyễn Kim Châu, PGS. TS. Trần Lê Hoa Tranh, PGS. TS. Bùi Thanh Truyền, PGS. TS. Trần Hoài Anh, PGS. TS. Lê Quang Trường, TS. Phan Mạnh Hùng. Điểm chung của những nhà nghiên cứu là đều gắn bó với hoạt động nhỏ với hoạt giáo dục ở các trường đại học và vì vậy, việc nghiên cứu - giảng dạy không tách rời, góp phần tạo nên giá trị trang viết. Trần Bảo Định không chỉ làm rõ giá trị khoa học mà còn nhấn mạnh hình tượng nhà sư phạm ở các nhân vật trí thức này. Giữa các nhà nghiên cứu và Trần Bảo Định có chung ý hướng tìm hiểu, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc ở Nam Bộ. Già ham sách ra đời từ sự cộng hưởng của tình yêu mễn văn hóa - văn học Nam Bộ nói riêng và giá trị thẩm mỹ văn chương nói chung. Qua tập sách, Trần Bảo Định thực sự mong mỏi có thể liên kết, tập hợp các nỗ lực bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống Nam Bộ để có thể tác động đến nhận thức và kêu gọi thế hệ trẻ tham gia vào công cuộc giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc hiện nay. Bởi ông hiểu rằng: Một cây làm chẳng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (Ca dao).

Về Quyển Sự Tích Và Nghệ Thuật Hát Bộ Của Đoàn Nồng (Khảo-Chú-Luận) Về quyển Sự tích và Nghệ thuật hát bộ của Đoàn Nồng: Ở đây, tác giả Đoàn Nồng mạnh dạn nêu lên ý kiến cá biệt của mình về tên gọi của loại hình Hát Bội - cái tên toàn thể người dân đều quen thuộc như vậy, ông còn mạnh dạn cho rằng: “Tên ‘Hát Bội’ mà bây giờ đã công dụng để thứ Hát Tuồng cổ của ta có lẽ nguyên là chữ ‘hát bộ’ mà ra”, giải thích: “Bộ nghĩa là bước đi, đi bộ; ‘hát bộ’ nghĩa là vừa hát vừa đi, và làm bộ tịch để biểu diễn cảm giác, cảm tình với câu hát”). Và một loạt lập luận khác của ông về tên gọi “Hát Bộ’’ ở ngay trong tác phẩm (được khảo chú ở phía sau đây), kể cả trong bài viết ông bàn dặm thêm trong bài Bàn về chữ “bội”) trên tạp chí Tri Tân số 163 (19-10-1944), trang 6-7, độc giả có thể đọc một cách thuận tiện trong chuyên khảo này. “Sách chia ra ba chương: Chương thứ nhất nói về gốc tích và những cái hay cái khéo của nghề Hát Bội; chương thứ hai thuật qua những lớp tuồng thường dẫn; chương thứ ba sao lại những lớp tuồng hay xưa nay vẫn đem diễn thành một quyển sách vừa khảo cứu vừa trích diễm. Lời văn giản dị hoạt bát, thuần một giọng ta, không nhiễm lối văn Tây hoặc văn Tàu, Quốc ngữ mà được như thế đã là có công lắm.” (Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố)

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị Quốc Mẫu Tân Thời Qua Tư Liệu Báo Chí (1934-1945) Trong khuôn khổ của cuốn sách này, chúng tôi muốn gởi đến bạn đọc hình tượng một vị Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn đã thoát ly khỏi những bó buộc ngặt nghèo của truyền thống đối với người phụ nữ Việt Nam thông qua tài liệu báo chí trong giai đoạn 1934 - 1945, cũng tức là trong khoảng thời gian bà tại vị Hoàng hậu. Từ đó, góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Hoàng hậu Hoàng đế, Hoàng thất, cũng như những công việc mà Hoàng hậu Nam Phương đã làm có ảnh hưởng đến công cuộc trị vì và giúp đỡ cho thần dân của mình lúc bấy giờ”.

Bộ ba tập Nhật ký cô giáo Học kỳ Xuân - Học kỳ Hè – Học kỳ Thu là ghi chép hàng ngày theo đúng nghĩa đen của từ này. Tập tản văn là một thực tiễn giáo dục, đơn thuần mô tả chân thực đời sống của nữ giảng viên làm công ăn lương ở một trường đại học trong thành phố Hồ Chí Minh. Giảng viên đại học cũng như bao nghề khác, có đầy rẫy thử thách làm cho cô giáo không ít lần lao đao, khóc lên khóc xuống để giữ thẻ màu giảng viên. Vẫn giữ lối kể chuyện nhẹ nhàng hài hước, "Nhật ký cô giáo – Học kỳ Thu" có nhiều đối thoại nhẹ nhàng, mô tả nhân vật kĩ hơn hai tập trước. Trong Nhật ký Cô giáo – Học kỳ Thu vẫn là chân dung cô giáo đại học bận rộn bài vở nhưng đã thành thạo công việc hơn cô giáo ở hai học kỳ trước. Cô giáo qua mấy học kỳ đã biết chấp nhận học trò, bình tĩnh hơn trong đối thoại và xử lý dứt khoát 101 tình huống sư phạm chỉ khi thực chiến mới thấy. Cô vẫn tỉ mỉ khi quan sát xung quanh, mọi cuộc gặp gỡ trong trường hay ngoài trường dù ngắn ngủi một vài phút cũng đủ cho cô giáo học hỏi từ các tiền bối, hậu bối. Cô giáo hiện lên là một nhân vật lạc quan, yêu nghề, tin người, có khả năng nhìn xấu thành đẹp, nhìn quen thành lạ. Cô giáo vẫn nhạy cảm với mọi thứ xảy ra quanh mình nhưng đã cứng rắn hơn trong cách xử lý. Nhờ đó những chuyện tưởng như bực mình trong học quán lại trở nên đáng yêu, mang đậm cảm xúc đặc thù của học quán thanh xuân này. Mỗi ngày cô đi làm đều có niềm vui. Tập Nhật ký Cô giáo – Học kỳ Thu hé lộ nội dung nhiều tiết học trong lớp của cô giáo, đề bài là gì, hoạt động của sinh viên, thể hiện quan điểm giáo dục thực tiễn của cô giáo: không chỉ hoàn thành công việc được giao mà còn hướng đến xây dựng con người hạnh phúc trong cuộc đời dài.

Tập sách này kết cấu trên nền tảng đạo đức sinh thái, bộc lộ sáng rõ ý tưởng khảo cứu. Tác giả đi sâu bàn rộng vào góc nhỏ đời sống, cụ thể: Ý thức về môi trường sinh thái qua ca dao, tục ngữ Nam Bộ; Ý thức sinh thái Nam Bộ; vài góc nhìn tham chiếu... Mỗi bài khảo cứu đi kèm truyện ngắn cho thấy ý muốn gắn liền việc "nghiệm xét" trong văn bản nghiên cứu với trải nghiệm cụ thể của hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn chương. Có lẽ tác giả không nghĩ đến việc xác lập bản thân trong vai trò nhà nghiên cứu, mà đúng hơn ông chỉ mong muốn gợi mở, thiết lập vấn đề, ngõ hầu những ai có lòng đắn đo theo đó mà tiếp tục nghĩ ra và bàn tới tiếp sức. Chính thế, tập sách này có thể xem như trang viết truyền cảm hứng (khơi dậy tình yêu nước thương nòi, tình yêu thương con người vạn vật nói chung) hơn là tập chuyên khảo hàn lâm. Từ mảnh đất quê, Trần Bảo Định nhìn khắp chốn, kết hợp đối sánh để rạng tỏ bản diện quê hương. Quan niệm "sinh thái học tầng sâu" của tác giả rõ ràng xuất phát từ chính cuộc sống và lối "minh triết" sẵn có của người bình dân Nam Bộ. Đáng quý hơn cả ở tập sách này là tác giả đã bám chặt lấy quê hương để khai thác quan niệm sinh thái của người dân đồng bằng sông Cửu Long và ông góp phần chuyển tải quan niệm sinh thái nhân văn riêng biệt của người bình dân Nam Bộ hòa vào mối quan tâm chung của nhân loại về vấn nạn môi trường sinh thái hôm nay.

Hạnh Phúc Đan Giữa Ngón Tay của tác giả Minh Hương. Nguyễn là quyển sách viết theo tâm thế “Trong đời sống này, sự khổ đau hay sung sướng, hoan lạc hay sầu thảm cũng chính là từ lúc chúng ta tự ý thức gieo lấy hạt giống gì trong ngay trong lòng mình. Gieo niềm vui gặt tiếng cười. Gieo âu lo gặt phiền muộn. Gieo gió gặt bão”. Với những mẩu chuyện nho nhỏ, sinh động được kể bằng giọng văn thân mật khiến người đọc cảm thấy gần gũi và dễ nhớ, cảm giác như đang được nghe một người bạn mở lòng, thủ thỉ, trải lòng chân tình về những gì mà bạn đã chiêm nghiệm. Nhẹ nhàng và nhẹ nhàng. Rồi “tôi và chúng ta” tâm đắc nhất vẫn là nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng: “Kiến tạo phiên bản tốt nhất của chính mình.” Như lời tác giả đã bộc bạch: “Bạn chỉ hạnh phúc khi bạn chọn sống hạnh phúc”. Hãy khám phá những trải nghiệm mới để phát triển chính mình với một phiên bản hạnh phúc hơn, thành công hơn… “Một tập sách đã mở ra, tùy đối tượng người đọc, mỗi người có thể chọn lấy vấn đề mà mình đồng cảm nhất. Thú thật, nếu chọn lấy một trong nhiều câu khác, tôi sẽ chọn câu này: “Hãy biết cách chủ động tạo niềm vui cho mình để không lẻ loi trông ngóng”. Một bản lĩnh rất đáng ghi nhận, nhất là ở nữ giới. Ít nhiều đã phản ánh sự khác biệt ngay từ trong ý thức của phụ nữ thế kỷ này và trước đó” – trích lời Tựa của Lê Minh Quốc.

Con Ơi, Ba Mẹ Vẫn Chờ Hiếm muộn là một câu chuyện không đơn giản. Ngoài việc chấp nhận đó là một vẫn đề thuộc sức khỏe, bệnh nhân hiếm muộn phải đối diện với vô vàn điều khó khăn khác. Cảm giác lo lắng, tức giận, buồn, mặc cảm, sợ hãi; thất vọng khi thất bại… tất cả những điều đó không phải ai cũng có thể chấp nhận, hoạc có thể dễ dàng chia sẻ với người thân, bạn bè. Vì vậy, họ dễ dàng rơi vào trạng thái cô đơn, trầm cảm. Con đường một bệnh nhân hiếm muộn đi chưa bao giờ bằng phẳng. Điều trị như thế nào, thời gian bao lâu, chi phí và những rủi ro, nguy cơ có thể xảy ra… và muôn vàn điều khác nữa đều có thể làm họ lo sợ, tuyệt vọng. Nhưng… Phải đi mới mong được đến đích. Đường có dài, thì cũng phải bắt đầu từ những bước “khởi hành”. Có câu “ Tận nhân lực tri thiên mệnh”, huống hồ sẽ có nhiều người “tận nhân lực” cùng bạn. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện nay ngày càng phát triển, điều đó có nghĩa là cơ hội cho những ai mong con ngày càng nhiều thêm… Hãy nhìn chuyện sinh con là đích đến của tình yêu và hạnh phúc. Chính nơi đó bạn sẽ trải nghiệm cảm giác yêu thương vô điều kiện, hy sinh những cái tôi ích kỷ và tận hưởng những ngọt ngào nhỏ bé trong đời mình.

Ký Ức Đông Dương: Việt Nam - Campuchia - Lào (Việt - Pháp - Anh) Kho tư liệu đồ sộ và sắp xếp khoa học của hầu hết dự án sưu tập, khảo sát và nghiên cứu do Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) Pháp trực tiếp thực hiện trong hơn 100 năm trở lại đây thường chứa đựng một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với người yêu sách lẫn giới học thuật, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực tại Việt Nam và quốc tế, đặc biệt ở mảng văn hóa - xã hội. Trước đó, hồi năm 2017 và 2018, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM đã phối hợp với Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) Pháp giới thiệu đến độc giả 2 tuyển tập sách: Lục Vân Tiên cổ tích truyện (bộ hai quyển, song ngữ) và Tranh dân gian Việt Nam. Hai tập sách này đã thu hút sự chú ý của người đọc trong và ngoài nước nhờ nội dung hấp dẫn, hình ảnh minh hoạt độc đáo, mang tính nghệ thuật cao. Tính đến thời điểm hiện tại, Tranh dân gian Việt Nam là tập sách được đánh giá vào loại hiếm, được giới sưu tầm "săn mua" lại từ những chủ nhân sở hữu trước đó, dù số lượng bản in lên đến hàng ngàn bản. Tiếp nối thành công từ sự hợp tác giữa hai bên, sau gần hai năm thỏa thuận tác quyền và nghiêm túc thực hiện công tác biên soạn - biên dịch, Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM cũng vừa giới thiệu đến công chúng tuyển tập “Ký ức Đông Dương: Việt Nam - Lào – Campuchia”. Nét mới trong tập sách này không chỉ là sự tổng hợp, chắt lọc đầy tính khoa học và nghệ thuật của 3 tập sách đơn lẻ mà Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) Pháp từng ấn hành, xuất bản trước đó tại nước ngoài là Ký ức Việt Nam (2013), Ký ức Lào (2015) và Ký ức Campuchia (2017) trước đó vào một tập sách, mà còn ở việc nội dung đã được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM dịch sang tiếng Việt và tiếng Anh so với bản Pháp ngữ của ấn phẩm gốc. Bằng cách này, các tác phẩm văn hóa dễ dàng tiếp cận hơn đến công chúng trong nước, và đặc biệt là "cầu nối" đến khách hàng là du khách quốc tế có dịp đến tham quan TP.HCM nói chung và Việt Nam nói riêng. Phần đầu của tập sách giới thiệu về lịch sử hình thành và những tư liệu quý giá qua thời gian được lưu trữ kỹ lưỡng bởi Viện Viễn đông Bác cổ (EFEO) Pháp qua những chuyển biến của lịch sử. Những hình ảnh khắc sâu trong tim, về khoảnh khắc trong quá khứ, xuyên suốt ở ba quốc gia Việt Nam - Campuchia – Lào được tái hiện vô cùng sinh động, hiện thực qua từng trang sách, đó là Ký ức Việt Nam: cận cảnh Đông Dương, con người và truyền thống; mỹ thuật và kiến trúc, Phật giáo, lễ hội và nghi thức tôn giáo; Ký ức Campuchia: khoa học - mỹ thuật - chính trị, đất - nước, nghi lễ hoàng cung, nhà sư và chùa chiền, thế giới “tách biệt”, khám phá; và Ký ức Lào: tự nhiên và văn hóa, con người và thiên nhiên, lễ hội và truyền thống, thực hành phật giáo. Tổng hợp tương quan về đa sắc tộc…. Bên cạnh việc giới thiệu những tư liệu ảnh quý lưu trữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ phản ánh tự nhiên, văn hóa, con người, thiên nhiên, di sản… của Đông Dương, sách còn là sợi dây nối liền ký ức thông qua nét đẹp của phụ nữ Việt Nam khi ngược dòng thời gian trở về đầu thế kỷ 20… Nét đẹp đó là những nét sinh hoạt thường ngày, sự bình dị khi hoạt động mua bán, khi khoác lên mình những bộ trang phục truyền thống của từng dân tộc, hay hoạt động tín ngưỡng, hoặc những ánh mắt trẻ thơ không kém phần sâu lắng của các thiếu nữ…

Rơm Rạ Lấm Lem - Truyện Dài Thiếu Nhi Độ Tuổi 6 Đến 15 Mùa hè của cô nhóc tên Nguyên có gì? Quê ngoại của cô nhóc Nguyên có gì? Hẳn những miền quê nào cũng giống nhau, cũng cánh đồng, ao làng, lũy tre, cào cào châu chấ Cũng những trò nghịch ngợm ngoài đồng, những buổi trẻo cây, tắm ao, móc cua, tát cá Cũng những trò nghịch khôn dại trẻ con lấm lem mà vui vẻ nhưng làm hú hồn người lớn. Lại rất khác bởi những con người mà cô nhóc Nguyên đã gặp gỡ, chuyện trò và yêu thương. Đi qua mùa hè của cô nhóc, hẳn người đọc sẽ tìm thấy mùa hè của mình, tuổi thơ của mình, và sẽ nhớ về những ngày xưa trong trẻo mát lành. Tuổi thơ ấy bấy lâu vẫn nằm im trong ký ức, chợt một ngày ùa ra reo vui như những chùm pháo hoa rực rỡ.

Đàng Trong Lịch Sử Và Văn Hóa Tập sách "Đàng Trong - Lịch sử và văn hóa" đến tay bạn đọc không phải là một công trình chuyên khảo. Những bài viết trong tập sách này chỉ là những mảnh ghép của bức tranh chưa hoàn chỉnh về lịch sử xứ Đàng Trong trong hơn hai thế kỷ tồn tại với những mong góp được phần nào vào sự cảm nhận, đánh giá của bạn đọc thêm phần thỏa đáng về những gì liên quan đến lịch sử và văn hóa Đàng Trong, một thành quả không hề nhỏ của quá trình “nhân đối đất nước” dưới thời các chúa Nguyễn.

Ai Làm Đau Tiếng Việt? Chúng tôi không trình bày theo chuyên mục nhằm giảm tính hàn lâm của quyển sách. Do đó, bạn đọc sẽ cảm thấy nội dung của quyển sách rất đời thường, gần gũi, thậm chí là có minh trong đó. Mỗi bài - tạm gọi vậy - chúng tôi nêu ra thực trạng và nguyên nhân của nó. Cuối cùng là cách sửa, cách khắc phục. Chỉ nên xem đây là những bài tập về tiếng việt - những bài thực hành về tiếng việt thôi. Chúng tôi cố gắng trình bày nội dung của mỗi bài và của toàn quyển sách bằng những từ ngữ đơn nghĩa nhất để những em học sinh dễ hiểu, dễ khắc phục, còn người lớn, những người làm công tác chuyên môn thì vẫn có thể sử dụng như một tài liệu khoa học về ngôn ngữ, cụ thể là tiếng việt.

Cái Thiện - Hành Trình Kiếm Tìm Tự Ngã Chân Chính Đây là tác phẩm triết học đầu tiên ở Nhật Bản có sự dung hòa triết thuyết phương Đông và phương Tây. Cái thiện không chỉ giới thiệu và khái lược về triết học phương Tây một cách đơn thuần, mà nó đã khai phá và đưa ra lời giải đáp duy nhất cho các câu hỏi như thực tại chân chính là gì, thiện là gì, thế nào là hành vi thiện, con người ta nên kiếm tìm sự an lòng trên phương diện tôn giáo ở đâu? Và những kiến giải đó của Nishida cũng nhằm mục đích đánh thức tư duy của các nhà tư tưởng đời sau và trở thành tiền đề để hình thành tư tưởng của chính bản thân ông sau này. Với ý nghĩa đó, Cái thiện có một vị trí lớn lao trong lịch sử triết học Nhật Bản. Nó không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, mà ngay trong thời hiện đại nó cũng không hề mất đi ý nghĩa khi sự suy ngẫm này của ông đã tạo ra sự đối đầu triệt để với triết học phương Tây. “Tôi lại cho rằng thiện của mỗi cá nhân mới là quan trọng nhất, bởi nó là nên tảng cho mọi thứ thiện trên đời. Vĩ nhân chân chính vốn không phải vì sự nghiệp vĩ đại do ông ta gây dựng nên khiến ông ta trở nên vĩ đại, mà là vì ông phát huy được cá tính mạnh mẽ nhất. Lên núi cao rồi hổ lên một tiếng, thanh âm sẽ vang vọng bốn phương, đó không phải vì thanh âm lớn, mà là vì chỗ đúng cao. Tôi cho rằng người có thể phát huy trọn vẹn đặc điểm riêng của mình sẽ càng trở nên vĩ đại hơn nhiều, so với người quên đi bản phận của mình để luôn chạy đôn chạy đáo vì người khác”. Nishida Kitarō Là triết gia tiêu biểu và có sức ảnh hưởng lớn nhất Nhật Bản trong thế kỷ XX. Sinh ra trong một gia đình hào phú, nhưng sau đó lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Năm 1884 ông tốt nghiệp trường sư phạm của tỉnh Nishikawa. Năm 1894 ông hoàn thành chương trình học tại khoa triết học của Trường Đại học Văn khoa thuộc Đế quốc Đại học (nay là Đại học Tokyo). Năm 1896 ông trở thành giảng viên giảng | dạy tại trường Cao đẳng Đệ Tử. Ngoài ra ông còn là giảng viên của hàng loạt các trường đại học khác như Đại học Nhật Bản, Đại học Phú Sơn (nay là Đại học Taisho), Đại học Chân Tông Đại Cốc (nay là Đại học Otani), Đại học Khánh Ứng Nghĩa Thục (nay là Đại học Keio) Năm 1940 ông nhận Huân chương Văn hóa do Thiên hoàng ban tặng. Trước đó, năm 1936 trong số ra tháng 1 của tạp chí Tư tưởng đã dành riêng một chuyên đề bàn về “triết học Nishida”. Lĩnh vực triết học mà Nishida quan tâm được trải rộng trên nhiều phương diện, từ thiện, luân lý học cho tới tri thức luận, bản thể luận, siêu hình học. Cuốn sách Cái thiện được xem là kết tinh tư tưởng của ông. Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm tiêu biểu khác: Tư duy và trải nghiệm (1915); Trực quan và phản tỉnh trong tự giác (1913-1917); Vấn đề ý thức (1918-1919); Nghệ thuật và đạo đức (1920-1923); Từ cái động đến cái hiển hiện (1923-1927); Giới hạn tự giác của cái có (1930-1932); Vấn đề căn bản của triết học (thế giới hành vi) (1933); Vấn đề căn bản của triết học (thế giới phép biện chứng) (1934).

Bảo Vệ Môi Trường - Qua Góc Nhìn Của Tôn Giáo Và Triết Học "Cuốn sách này là tập hợp một số bài viết do Đại đức Thích Nhuận Đạt biên dịch từ những công trình nghiên cứu nghiêm túc của một số học giả, nhà tu hành, nhà thần họ như một cách để xuất giải pháp cho vấn đề bảo vệ sinh thái dưới góc nhìn của tôn giáo và triết học. Vì vậy trong cuốn sách này, người đọc có thể sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi biết được ngoài Phật giáo đi tiên phong ra, Nho giáo, Đạo giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, và nhiều sách triết lý chính trị theo truyền thống của “bách gia chư tử” Trung Quốc cổ đại cũng đều có những gợi ý hoặc để xuất minh triết liên quan các vấn để thuộc về bảo vệ môi trường sống của loài người. Điều dáng ngạc nhiên là không hiểu sao các bậc hiền triết cổ có thể “tiên tri” được vấn đề, từ đó đưa ra được những chỉ dẫn thích hợp mà con người thời đại ngày nay còn có thể tham khảo để điều chỉnh lối sống và hành vi của mình, nhằm tránh nguy cơ bị tận diệt?" - Trần Văn Chánh (Trích Thay lời tựa) "Mối quan tâm sinh thái là một phương diện quan trọng trong sự phát triển của sự quan tâm xã hội và ý thức đạo đức đương đại, những người có chung sự quan tâm này đã đưa ra sự thách thức cho các truyền thống tôn giáo không giống nhau. Các nhà tư tưởng tôn giáo từng tiến hành nghiên cứu, giải thích và thay đổi lại truyền thống tôn giáo của họ, khiến cho nó càng có thể đối diện với sự thách thức của khủng, hoảng sinh thái." - Lại Phẩm Siêu "Tất cả những vấn đề trên thế giới đều liên quan đến "con người", nhân loại có thể nói là kẻ tạo ra vấn đề, muốn xử lý vấn đề môi trường, phải nhờ vào sự tự giác của mỗi cá nhân. Vì lẽ đó, ngoài việc trân quý nguồn tài nguyên đất đai ra, chúng ta cần phải bảo vệ tốt môi trường thân tâm của mình, như cự tuyệt với kiến thức rác rưởi, không để tư tưởng bị ô nhiễm, ấy chính là bảo vệ môi trường tư tưởng, trong lòng không phiền muộn, đố kỵ, bất bình, giận dỗi, vv., ấy chính là bảo vệ môi trường tâm linh." - Đại Sư Tinh Vân

Truyện Ngắn Đương Đại Hàn Quốc - Tập 2 Cuốn sách này đáng được lựa chọn với tư cách một tuyển tập tác phẩm tiêu biểu cho văn chương Hàn Quốc đương đại. Bởi vì trong văn chương đương đại Hàn Quốc, truyện ngắn là một thể loại mạnh, với sự nổi bật cũng như thành tựu quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Bởi vì tất cả 12 truyện ngắn trong này được tuyển chọn từ tạp chí Koreana, và chỉ riêng điều đó thôi đủ bảo chứng cho chúng. Koreana là tạp chí của quỹ Giao lưu quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation), xuất bản hàng quý, giới thiệu văn hóa nghệ thuật xứ Kimchi tới độc giả quốc tế. “Vai trò của truyện ngắn trong lịch sử văn học hiện đại Hàn Quốc quan trọng hơn là một hiện tượng đáng chú ý. Tại Hàn Quốc, truyện ngắn thống lĩnh hơn so với tiểu thuyết và truyện vừa (…).” Trong khi giới xuất bản, phát hành Âu Mỹ khá nhất trí rằng khó kinh doanh phát đạt nhờ các tác phẩm best-seller nếu đầu tư vào truyện ngắn, “truyện ngắn rất khó bán” thì hàn quốc bao nhiêu năm qua luôn tập trung ưu tiên truyện ngắn, “đã chi hàng tỉ won dịch thuật các tuyển tập truyện ngắn giới thiệu ra nước ngoài”. Ấn bản Koreana đầu tiên bằng tiếng Anh ra đời năm 1987, và sau hơn ba mươi năm, đến nay đã có các phiên bản tạp chí in, tạp chí điện tử và webzine Koreana trong 11 thứ tiếng (Anh, nhật, Trung quốc, Tây ban nha, Pháp, Arab, Đức, indonesia, nga, việt nam, hàn quốc). Koreana trở thành một trường hợp hiếm hoi trong các tạp chí quốc tế, với bạn đọc ở khắp 160 quốc gia. qua những bài viết chất lượng tốt, thông tin phong phú, những hình ảnh đẹp, hấp dẫn, Koreana góp phần quảng bá văn hóa nghệ thuật Hàn Quốc, thực hiện sứ mệnh của Korea Foundation: “Gắn bó nhân loại, kết nối thế giới” (CONNECT PEOPLE, BRIDGE THE WORLD). Từ năm 1993, Koreana bắt đầu đăng một truyện ngắn trong mỗi tạp chí. Qua hơn một phần tư thế kỷ, hơn 100 truyện ngắn đã được chọn như những đại sứ đưa văn chương Hàn Quốc đến toàn cầu. Sự quan tâm của công chúng nước ngoài đối với văn chương xứ sở Kimchi, có thể trong không ít trường hợp, bắt đầu từ niềm say mê làn sóng văn hóa đại chúng - qua phim truyện truyền hình (K-drama), âm nhạc (K-pop),truyện tranh (Manhwa), thời trang (K-fashion), ẩm thực (K-food)… Tuy nhiên, trên hành trình, văn chương đã chinh phục với sức hấp dẫn riêng biệt của mình, góp phần cân bằng cảm nhận của thế giới một hình tượng Hàn Quốc toàn vẹn hơn, tinh hoa, sâu lắng hơn. Phiên bản Koreana tiếng việt đầu tiên ra mắt năm 2014. 12 truyện ngắn của tuyển tập này được chọn từ các tạp chí Koreana trong sáu năm qua. Các tác giả, chỉ đôi người bước vào tuổi tri thiên mệnh khi sáng tác tác phẩm mà chúng ta sắp đọc, còn lại phần lớn ở độ tuổi từ 23 đến 40. Tất cả đều từng giành được những giải thưởng văn học, trong đó, có nhiều giải thưởng danh giá bậc nhất xứ Hàn. 12 truyện ngắn bộc lộ nhiều phương diện hiện thực Hàn Quốc qua các mối quan hệ nhân sinh, đặc biệt là cách mà những người trẻ tuổi tiếp nhận và thích ứng với những thay đổi mạnh mẽ kinh tế, chính trị cũng như văn hóa, xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hậu công nghiệp hóa nhanh chóng, nén ép. Nhiều câu chuyện phản ánh những nét đặc thù cuộc sống xứ sở Kimchi (phong trào dân chủ Gwangju, phẫu thuật thẩm mỹ, cửa hàng tiện lợi…) đồng thời cũng khái quát các vấn đề có tính toàn cầu (tình trạng cô đơn, xa lạ cõi người trong xã hội ngày càng thực dụng, vị kỷ, ngạt thở vì định kiến; số phận cuộc đời cá nhân giữa đủ loại khủng hoảng, ly tán, xung đột, bão tố chiến tranh…). 12 truyện ngắn thể hiện phong phú các sắc điệu tâm hồn Hàn Quốc, tinh tế, nhạy cảm, nặng tình (Jeong, 정) và vấn vít hận sầu (han, 한), không nguôi tha thiết trăn trở về sinh tử, thiện ác, hạnh phúc cùng mất mát, những giá trị truyền thống và hiện đại. 12 truyện ngắn mở ra những thế giới nghệ thuật biến ảo, từ bút pháp hiện thực đến viễn tưởng, kinh dị; Cả giọng điệu trữ tình lãng mạn lẫn triết lý thâm trầm; Phần kết truyện thường mở, để lại những dư ba. Cùng với nhau, các tác phẩm có thể cho thấy năng lượng cùng sức trẻ của truyện ngắn đương đại Hàn Quốc kết tinh cả truyền thống ngàn năm văn chương dân tộc, đủ sức chạm đến những xúc cảm và suy tư lay động nhân tình bất cứ ở phương trời xa xôi nào.

Toàn Cầu Hóa - Hợp Tác Và Đấu Tranh Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội 1 loài người. Sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta toàn thắng mùa xuân năm 1975, trùng hợp với sự bắt đầu một thời kỳ “hoàng kim” mới của toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa. Nó diễn ra sầu rộng hơn và nhanh chóng hơn trước, nhờ sự tiến bộ ngoạn mục của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông với hiện tượng internet. Nó bao gồm tất cả các mặt của đời sống chính trị - xã hội, kinh tế - tài chính - tiền tế, văn hóa - lối sống. Nó diễn ra như vũ bão làm cho người ta có cảm tưởng không gì có thể cưỡng lại được. | Nước Mỹ đóng vai trò vượt trội so với phần còn lại của thế giới chẳng những về kinh tế, tài chính, tiền tệ, mà cả về văn hóa, lối sống (way of life). Thế thượng phong của Mỹ trong toàn cầu hóa hiện nay nổi bật đến mức khó có thể phân biệt giữa hai khái niệm “toàn cầu hóa” và “Mỹ hóa”. - Đặc điểm nổi bật của quá trình toàn cầu hóa từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh quyết liệt để giành phần thắng về mình giữa các tác nhân, xung quanh một loạt vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, hòa bình và an ninh quốc tế trọng đại của thế giới; thiết thân đối với Việt Nam trong bối cảnh nước ta tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đồng thời đấu tranh quyết liệt để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ từ biên giới đến hải đảo. Các vấn đề đó là: - Toàn cầu hóa qua các giai đoạn lịch sử, đòi hỏi cải tổ các định chế tài chính - tiền tệ quốc tế và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc theo hướng dân chủ và minh bạch hơn; về khuynh hướng ly khai và hệ lụy; về hòa bình trong độc lập tự do, không phải hòa bình trong nô lệ. - Về vấn đề Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc và tích cực tham gia các lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; về Phong trào không liên kết từ chỗ coi tình hình miền Nam là nội chiến đến hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. - Vấn để đấu tranh bảo vệ chủ lãnh thổ từ biên cương đến hải đảo và thềm lục địa. Hoàng Sa và Trường Sa trước nay vẫn là của Việt Nam, phù hợp phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài PCA, bác bỏ mọi yêu sách phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Việc Cuba đổi mới đi đôi với bảo vệ chế độ chính trị của đất nước.